thumb

Quyết định ban hành Hướng dẫn thực hiện quy chế đào tạo Đại học, Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của trường Đại học

Chương I - NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
          Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
 
          1. Văn bản này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét học vụ; xét và công nhận tốt nghiệp.
          2. Văn bản này áp dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học và cao đẳng thực hiện theo hình thức tích lũy tín chỉ.
          Điều 2. Chương trình đào tạo, Đề cương chi tiết học phần
 
          1. Chương trình đào tạo (sau đây gọi tắt là chương trình) cần thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện.
          2. Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.
          3. Đề cương chi tiết của từng học phần phải thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập phục vụ học phần.
          4. Chương trình đào tạo do Hiệu trưởng phê duyệt, với khối lượng của mỗi chương trình không dưới: 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm; 120 tín chỉ đối với khóa đại học 4 năm.
          5. Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên quản lý nội dung chương trình đào tạo của tất cả các ngành trong trường. Việc điều chỉnh nội dung chương trình phải được Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Khoa thống nhất đề nghị bằng văn bản và trình Hiệu trưởng phê duyệt (thông qua Hội đồng khoa học cấp trường).
          Điều 3. Học phần và Tín chỉ
          1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ (trừ học phần đồ án môn học, đồ án/khóa luận tốt nghiệp), nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định.
          2. Các loại học phần:  
a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;
b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn. Sinh viên phải tích lũy đủ số tín chỉ của các học phần tự chọn trong chương trình thiết kế cho khóa học.
c) Học phần tương đương: là học phần thuộc chương trình đào tạo của một khóa, ngành khác đang tổ chức đào tạo tại trường hoặc của một đơn vị đào tạo khác có cùng số tín chỉ sẽ được phép tích lũy để thay thế cho học phần trong chương trình của ngành đào tạo. Hiệu trưởng quy định học phần tương đương, ngành và khóa áp dụng trên cơ sở đề xuất của khoa chuyên môn, phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên.
d) Học phần thay thế: là học phần được sử dụng khi một học phần có trong chương trình đào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay thế bằng một học phần khác đang còn tổ chức giảng dạy. Hiệu trưởng quy định học phần thay thế trên cơ sở đề xuất của khoa chuyên môn và phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên.
e) Học phần tiên quyết: học phần A là học phần tiên quyết của học phần B, nghĩa là khi sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải 
g) Học phần học trước: học phần A là học phần học trước của học phần B thì sinh viên phải học xong (có thể chưa đạt) học phần A thì mới được dự lớp học phần B.
h) Học phần điều kiện bao gồm: Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng an ninh. Số tín chỉ của các học phần này không được tính vào số tín chỉ tích lũy của chương trình đào tạo, nhưng kết quả đánh giá của các học phần này là điều kiện để xét tốt nghiệp ra trường. Sinh viên phải tích lũy đạt các học phần điều kiện mới được xét tốt nghiệp.
          3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉđược quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 60 giờ thực tập tại cơ sở; 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp.
        Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
        Một tiết học được tính bằng 50 phút.

 

        Do điều kiện thực tế của nhà trường, nếu vẫn thực hiện tiết học 45 phút thì việc quy đổi theo bảng sau:
 
TT
MÔN HỌC
TÍN CHỈ
SỐ TIẾT THỰC GIẢNG (45’)
SỐ TIẾT HƯỚNG DẪN
 
TỔNG SỐ TIẾT THANH TOÁN
1
Môn A
2
33
3
36
2
Môn B
3
50
4
54
3
Môn C
4
66
6
72
          
          Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy
Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 7 giờ 30 đến 21 giờ 30 hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, được quy định cụ thể như sau:
 
 
Buổi
 
Tiết học
 
Thời gian
 
Sáng
Tiết 1
7h30’-8h15’
Tiết 2
8h20’-9h05’
Tiết 3
9h15’-10h0’
Tiết 4
10h05’-10h50’
Tiết 5
10h55-11h40’
 
Chiều
Tiết 6
13h15’-14h00’
Tiết 7
14h05’-14h50’
Tiết 8
15h00’-15h45’
Tiết 9
15h50’-16h35’
Tiết 10
16h40’-17h25’
 
Tối
Tiết 11
18h00’-18h45’
Tiết 12
18h50’-19h35’
Tiết 13
19h40’-20h25’
Tiết 14
20h30’-21h15’
 
          Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế, các khoa vẫn có thể bố trí giảng dạy vào các ngày thứ bảy, chủ nhật trong tuần.
          Căn cứ vào số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên của khoa, các khoa chủ động sắp xếp thời khóa biểu phù hợp với tình hình thực tế và gửi thời khóa biểu về trường để theo dõi, quản lý (gửi qua phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên).
          Điều 5. Đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:
          1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).
          2. Điểm trung bình chung học kỳ (TBCHK) là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.
          3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học. Học phần bị điểm F không được tính vào khối lượng kiến thức tích lũy.
          4. Điểm trung bình chung tích lũy (TBCTL) là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.
 
Chương II - TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
          Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo
          1. Nhà trường tổ chức đào tạo theo khóa học, năm học và học kỳ.
a) Khóa học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tùy thuộc chương trình, khóa học được quy định như sau:
          Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.
b) Học kỳ: Một năm học có học kỳ chính và học kỳ phụ.
- Học kỳ chính: học kỳ chính là bắt buộc trong kế hoạch đào tạo của năm học. Học kỳ chính gồm học kỳ 1 và học kỳ 2, mỗi học kỳ có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi.
          Sinh viên đăng ký học trong học kỳ phụ phải đóng học phí theo quy định của nhà trường. Không có chế độ miễn, giảm học phí trong học kỳ phụ. Khoa căn cứ số lượng sinh viên đăng ký học trong học kỳ phụ, lập kế hoạch tổ chức học kỳ phụ và gửi kế hoạch và danh sách về phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên.
          2. Việc phân bổ số học phần, số tín chỉ cho từng học kỳ, từng năm học được thiết kế trong Chương trình đào tạo của ngành đã được Hiệu trưởng phê duyệt.
          3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của Điều này, cộng với 2 học kỳ đối với các khóa học dưới 3 năm; 4 học kỳ đối với các khóa học từ 3 đến dưới 5 năm; 6 học kỳ đối với các khóa học trên 5 năm và không vượt quá hai lần so với thời gian thiết kế cho chương trình đó. Thời gian tối đa sinh viên được phép học tập trong trường bao gồm cả thời gian dành cho học cùng lúc hai chương trình, thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân và thời gian học ở trường khác trước khi chuyển về trường Đại học Đông Đô (nếu có) để hoàn thành chương trình.
          Điều 7. Nhập học
          1. Khi trúng tuyển, có Giấy gọi nhập học, sinh viên phải nộp các giấy tờ theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học phải được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân và do phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên quản lý.
          2. Một số trường hợp khác nhập học hệ chính quy:
- Sinh viên đang học ở nước ngoài có nguyện vọng và được giới thiệu về nước học tiếp được Trường Đại học Đông Đô chấp thuận bằng văn bản;
- Sinh viên nước ngoài đăng ký theo học các chương trình đào tạo của Trường.
          3. Sau khi đã hoàn tất các thủ tục nhập học cho sinh viên trúng tuyển, các khoa sắp xếp thí sinh vào các lớp, lập danh sách báo cáo Hiệu trưởng (gửi qua phòng Đào tạo và QLSV). Phòng Đào tạo và QLSV có trách nhiệm kiểm tra, trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận thí sinh là sinh viên chính thức của trường và cấp cho sinh viên:
a) Thẻ sinh viên;
b) Sổ tay sinh viên. Trong sổ tay sinh viên có các thông tin: mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình đào tạo, quy chế đào tạo, quy chế sinh viên, các chế độ chính sách liên quan đến sinh viên;
          4. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành và theo quy định của Trường Đại học Đông Đô.
          Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các ngành hoặc chuyên ngành đào tạo
           Trường hợp ngành có các chuyên ngành đào tạo khác nhau, tùy theo số lượng sinh viên, nhà trường  sẽ xếp lớp theo chuyên ngành ngay từ khi nhập học hoặc sau khi học xong phần kiến thức chung của ngành.
          Tuy nhiên khi sinh viên đủ điều kiện trúng tuyển hệ đại học hoặc cao đẳng của Trường Đại học Đông Đô, nhà trường tôn trọng quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên, sinh viên có thể đăng ký học các ngành mà nhà trường có dựa trên năng lực, sở thích và sở trường phù hợp với Quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định của Trường Đại học Đông Đô.
          Tùy điều kiện thực tế, Trưởng khoa quy định cụ thể đối với số lượng sinh viên tối thiểu của một lớp theo chuyên ngành đào tạo.
          Điều 9. Tổ chức lớp học
          Lớp học được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ. Số lượng sinh viên tối thiểu cho mỗi lớp học là 15 sinh viên. Nếu số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu thì việc tổ chức lớp sẽ do Trưởng khoa quyết định trên cơ sở thống nhất với các sinh viên đăng ký lớp học đó.
          Tùy theo số lượng sinh viên, Trưởng khoa có trách nhiệm tổ chức các lớp học và báo cáo Hiệu trưởng, có các lớp sau:
          1. Lớp sinh viên: được thành lập trên cơ sở số lượng sinh viên đã nhập học theo ngành hoặc chuyên ngành đào tạo (như quy định ở điều 8). Lớp sinh viên được tổ chức theo Quy chế Công tác sinh viên hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, có đủ hệ thống tổ chức như: Giáo viên chủ nhiệm, ban cán sự lớp, ban chấp hành chi đoàn. Lớp sinh viên có tên riêng gắn với khoa, khóa, ngành và duy trì trong suốt khóa học.
          Việc tổ chức học tập của lớp sinh viên theo từng học kỳ đã được thiết kế trong chương trình đào tạo của ngành đã được Hiệu trưởng phê duyệt. Quản lý sinh viên của lớp trong thời gian học do Giáo viên chủ nhiệm và ban cán sự lớp thực hiện. Mỗi lớp sinh viên có một Sổ theo dõi giảng dạy và học tập theo mẫu quy định của trường.
          2. Lớp học phần: được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ. Mỗi lớp học phần có thời khóa biểu, lịch thi và được gán một mã số riêng. Tùy điều kiện cụ thể, Trưởng khoa quy định số lượng sinh viên trong một lớp học phần cho phù hợp. Lớp học phần có thể được tổ chức theo nhu cầu mở lớp của sinh viên để học lại, học cải thiện điểm, học vượt … (lớp có thể từ 1 sinh viên trở lên).
          Lớp học phần không có ban cán sự lớp, Giảng viên giảng dạy học phần là người trực tiếp quản lý lớp học và chịu trách nhiệm đánh giá các điểm thành phần trong quá trình học tập.
          Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập
          1. Đầu mỗi năm học, các khoa phải thông báo dự kiến kế hoạch học tập trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.
          2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, từng sinh viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó với khoa. Có 3 hình thức đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ: đăng ký sớm, đăng ký bình thường và đăng ký muộn.
          a) Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tháng;
 b) Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;
          c) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp.
          Tùy điều kiện đào tạo của khoa, Trưởng khoa xem xét, quyết định các hình thức đăng ký thích hợp.
          3. Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:
a) 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;
b) 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.
c) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ.
          4. Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ. Không hạn chế khối lượng đăng ký học tập của những sinh viên xếp hạng học lực bình thường.
          5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập đã được thiết kế cho mỗi chương trình đào tạo đã được Hiệu trưởng phê duyệt. Riêng đối với học phần điều kiện sẽ do nhà trường tổ chức chung cho tất cả các khoa.
          6. Trước khi bắt đầu học kỳ chính 1 tuần, Trưởng khoa báo cáo Hiệu trưởng (gửi qua phòng Đào tạo và QLSV) Kế hoạch đào tạo của từng khóa, từng lớp sinh viên theo trình tự học tập được thiết kế cho mỗi chương trình đào tạo đã được phê duyệt, và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện Kế hoạch đó. Nếu cần phải điều chỉnh kế hoạch đào tạo của khoa nào, Hiệu trưởng sẽ có văn bản gửi cho khoa đó. Phòng Đào tạo và QLSV có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thực hiện Kế hoạch đào tạo của các khoa.
          Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký
          1. Sinh viên được quyền rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký vì các lý do cá nhân (sức khỏe, tài chính, hoặc các lý do đặc biệt khác…), nhưng phải đảm bảo các điều kiện sau:
a) Trước khi kết thúc tuần thứ 2 của học kỳ chính và chậm nhất trong tuần học đầu tiên của học kỳ phụ, sinh viên có nhu cầu rút bớt học phần phải viết đơn, Giáo viên chủ nhiệm ký xác nhận. Sinh viên phải trực tiếp nộp đơn lên Văn phòng khoa, Văn phòng khoa sẽ trực tiếp hủy học phần cho sinh viên sau khi đơn của sinh viên đã có chữ ký đồng ý của Trưởng khoa.
b) Không vi phạm khoản 3 Điều 10 của Quy chế này.
         2. Từ tuần thứ 3 của học kỳ chính và từ tuần thứ 2 của học kỳ phụ, các học phần đã đăng ký sẽ không được phép hủy và giữ nguyên trong kết quả đăng ký học. Sinh viên có tên trong danh sách lớp học phần phải nộp học phí để học và nếu không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và học phần đó phải nhận điểm F.
          Trường hợp đặc biệt, nếu sinh viên vẫn có nguyện vọng và nộp đơn xin rút bớt học phần, sinh viên được chấp nhận rút bớt học phần nhưng không được rút lại học phí đã nộp đối với học phần đó.
         3. Sinh viên chỉ được phép không đến lớp đối với học phần xin rút bớt sau khi Văn phòng khoa thông báo đã xóa tên trong danh sách lớp học phần và gửi danh sách lớp cho giảng viên phụ trách giảng dạy học phần đó.
          Điều 12. Đăng ký học lại, học cải thiện điểm, học vượt
         1. Học lại: Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D. Danh sách lớp mở riêng về trường qua phòng Đào tạo và QLSV trước khi bắt đầu 01 tuần.
         2. Học cải thiện điểm:
         Đối với học phần đã có kết quả đạt điểm C hoặc D, sinh viên được phép đăng k&yac

Bình luận (0)

Để lại một bình luận