thumb

[Nghiên cứu] Nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mê Linh, Hà Nội

 

Promotion efficience for poor households to borrow in Vietnam bank for Social Policies-Branch Me Linh, Ha Noi

ThS. Nguyễn Minh Hải*

I.                  ĐẶT VẤN ĐỀ

1.     Cơ sở nghiên cứu

Ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và đến năm 2003 được tách ra thành Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), với mục tiêu chủ yếu là cho vay ưu đãi hộ nghèo. Với thời gian gần 15 năm hoạt động, NHCSXH đã cho hàng chục triệu lượt hộ nghèo vay với tổng số vốn lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng, góp phần to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên, công tác xóa đói giảm nghèo vẫn đang còn ở phía trước, với nhiệm vụ ngày càng khó khăn, phức tạp; trong đó, lĩnh vực tín dụng cho hộ nghèo còn nhiều vấn đề bức xúc như: Quy mô cho vay chưa lớn, hiệu quả xóa đói giảm nghèo còn chưa cao, hoạt động của NHCSXH chưa thực sự bền vững v.v… Để giải quyết tốt vấn đề nghèo đói ở nước ta nói chung và cho vay cho hộ nghèo nói riêng, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách có hệ thống, khách quan và khoa học, phải có sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội; chỉ ra đúng thực trạng để có giải pháp phù hợp trong việc đẩm bảo tính hiệu quả của công tác cho vây hộ nghèo với mục tiêu là xóa đói, giảm nghèo thành công và đạt hiệu quả cao. Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương họp tại Thái Lan vào tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán địa phương”.

Mặc dù hiện nay, nước ta về cơ bản đã xóa được đói nhưng vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới. Theo số liệu thống kê tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm bình quân khoảng 2%/năm từ 14,2% (cuối năm 2010) xuống dưới 4,5% (năm 2015). Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ. Thời gian tới, công cuộc xóa đói giảm nghèo (XĐGN) sẽ đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn từ phía Chính Phủ, xã hội, cộng đồng và bản thân hộ nghèo, đồng thời các tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập, bên cạnh các thời cơ thuận lợi cũng xuất hiện nhiều thách thức mới đối với công cuộc XĐGN.

Tiêu chí chính được sử dụng thường xuyên nhất để xác định hộ nghèo là thu nhập bình quân đầu người. Thu nhập bình quân đầu người này lại phải dựa vào chuẩn nghèo của từng vùng từng khu vực, từng quốc gia được ban hành trong các giai đoạn cụ thể. Sở dĩ như vậy vì: mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi một quốc gia có đặc điểm kinh tế-xã hội khác nhau, tốc độ phát triển cũng không giống nhau. Hơn nữa, khi tình hình kinh tế có sự biến động, giá cả không ổn định thì chuẩn nghèo cũng thay đổi cho phù hợp. Trong giai đoạn 2011-2015 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký Quyết định ban hành chuẩn nghèo cho hai khu vực thành thị và nông thôn như sau:

: Hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới 400.000 đồng /người /tháng (4.8 triệu đồng /người /năm) được coi là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 500.000 đồng/người/tháng (dưới 6 triệu đồng/người/ năm) được coi là hộ nghèo.

            Riêng đối với Hà Nội: Ngày 10/01/2011, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND về chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2016 như sau:

          + Thành thị: thu nhập bình quân dưới 750.000 đ/ người/tháng là hộ nghèo. Hộ cận nghèo có thu nhập bình quân từ 751.000đ - 1.000.000đ/người/ tháng

          + Nông thôn: thu nhập bình quân dưới 550.000 đ/người/tháng. Hộ có thu nhập bình quân từ 551.000đ - 750.000 đ/ người/ tháng thì được xếp trong danh sách hộ cận nghèo.

          - Ngày 13/4/2016, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 12/2016/QĐ-UBND về chuẩn nghèo, hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung bình tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 như sau:

+ Chuẩn nghèo: 1.100.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.400.000 đồng/người/ tháng ở khu vực thành thị.

+ Chuẩn cận nghèo: 1.500.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.950.000 đồng/người/ tháng ở khu vực thành thị.

Mục đích cho vay hộ nghèo: Đầu tư mua sắm các loại vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón..., công cụ lao động, chi phí thanh toán cung ứng lao vụ, đầu tư làm nghề thủ công, chi phí nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản.

Góp vốn để thực hiện dự án SXKD do cộng đồng người lao động sáng lập và được chính quyền địa phương cho phép thực hiện.

Cho vay giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về nhà ở, nước sạch, điện thắp sáng và học tập. NHCSXH cho vay vốn hỗ trợ một phần chi phí học tập cho những con em đang theo học phổ thông để trang trải các chi phí: Tiền học phí phải nộp theo quy định của Bộ GD&ĐT đối với trường công lập và theo quy định của nhà trường đối với trường dân lập; Kinh phí xây dựng trường theo quy định của địa phương phù hợp với quy định của Bộ GD&ĐT; Tiền mua dụng cụ học tập và sách giáo khoa theo giá ghi trên bìa sách (không cho vay mua sách tham khảo, sách nâng cao); Tiền mua quần áo hoặc trang phục học đường của học sinh theo quy định; Căn cứ vào tình hình thực tế nguồn vốn và nhu cầu vốn tại địa phương, Giám đốc chi nhánh NHCSXH cơ sở ưu tiên, tập trung nguồn vốn cho vay hộ nghèo SXKD trước, sau đó mới xét đến cho vay giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về nhà ở, nước sạch, điện thắp sáng và học tập tại các trường phổ thôn

Hiệu quả cho vay hộ nghèo là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị xã hội. Có thể hiểu hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo là sự thoả mãn nhu cầu về sử dụng vốn giữa chủ thể Ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích kinh tế mà xã hội thu được và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.

 Xét về mặt kinh tế:

- Cho vay hộ nghèo giúp người nghèo thoát khỏi đói nghèo sau một quá trình XĐGN cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn nghèo, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng. Góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo, phục vụ cho sự phát triển và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trính tích tụ và tập chung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.

- Giúp cho người nghèo xác định rõ trách nhiệm của mình trong quan hệ vay mượn, khuyến khích người nghèo sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh tạo thu nhập để trả nợ Ngân hàng, tránh sự hiểu nhầm tín dụng là cấp phát.

Xét về mặt xã hội:

- Cho vay cho hộ nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi cuộc sống ở nông thôn, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực. Tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn.

- Tăng cường sự gắn bó giữa các hội viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế gia đình...Nêu cao tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường tình làng nghĩa xóm, tạo niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước.

- Góp phần trực tiếp vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề, dịch vụ mới trong nông nghiệp đã góp phần thực hiện phân công lại lao động trong nông nghiệp và lao động xã hội.

 2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay hộ nghèo

 

 

 

 

 

 

Chất lượng cho vay và hiệu quả cho vay là hai tiêu chí quan trọng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng. Hai tiêu chí này có điểm giống nhau đều là chỉ tiêu phản ánh lợi ích do vốn cho vay mang lại cho khách hàng và Ngân hàng về mặt kinh tế. Những hiệu quả cho vay mang tính cụ thể và tính toán được giữa lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong quá trình đầu tư cho vay thông qua các chỉ tiêu:

- Số lượt hộ nghèo được vay vốn ngân hàng

Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt số lượng, cho biết tại thời điểm báo cáo có tổng số bao nhiêu lượt hộ nghèo được vay vốn và được tính luỹ kế từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả.

    Tổng số                 Luỹ kế số lượt hộ               Luỹ kế số lượt hộ

lượt hộ nghèo    =       được vay đến          +        được vay trong

được vay vốn              cuối kỳ trước                         kỳ báo cáo

 

Số lượt hộ nghèo được vay vốn phản ánh quy mô cho vay của ngân hàng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động cho vay hộ nghèo càng được mở rộng, phát triển về số lượng. Chỉ tiêu này phụ thuộc chủ yếu vào chủ trương và cách điều hành của NHCSXH:

- Nếu ngân hàng thực hiện tốt công tác cho vay và quản lý cho vay, tập trung vào cho vay các dự án ngắn hạn, có vòng quay vốn nhanh sẽ có tác động tích cực làm tăng tổng số lượt hộ nghèo được vay vốn trong mỗi kỳ báo cáo, từ đó phát triển quy mô cho vay, góp phần tăng hiệu quả cho vay hộ nghèo.

- Ngược lại, nếu ngân hàng không quan tâm đầy đủ đến công tác cho vay, chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng của ngân hàng không đảm bảo yêu cầu thực tế của công việc, quản lý yếu kém công tác cho vay hộ nghèo hoặc chú trọng mở rộng các khoản vay trung và dài hạn sẽ gây ảnh hưởng làm giảm số lượt hộ nghèo được vay vốn. Khi số lượt hộ nghèo được vay vốn bị giảm, cần phân tích rõ nguyên nhân do quản lý yếu kém hay do chủ định của ngân hàng tập trung vào phát triển các khoản vay trung và dài hạn để có đánh giá chính xác về hiệu quả cho vay của ngân hàng.

- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn

 

Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với cho vay hộ nghèo; bằng tổng số hộ nghèo được vay vốn trên tổng số hộ nghèo đói theo chuẩn mực được công bố.

 

Tỷ lệ hộ                          Tổng số hộ nghèo được vay vốn

 

nghèo được      =        ------------------------------------------------     x 100

 

 

   vay vốn                    Tổng số hộ nghèo đói trong danh sách

 

Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn càng cao chứng tỏ ngân hàng đã làm tốt công tác mở rộng, phát triển cho vay hộ nghèo. Cũng tương tự như chỉ tiêu Số lượt hộ nghèo được vay vốn, chỉ tiêu này phụ thuộc chủ yếu vào chủ trương và cách điều hành của ngân hàng:

- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn cao chứng tỏ ngân hàng thực hiện tốt công tác huy động vốn cho vay, tranh thủ được các nguồn vốn trong và ngoài ngân sách để thực hiện tốt công tác cho vay. Chỉ tiêu này cao còn cho thấy đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ, năng lực cao, nhiệt tình và tận tâm với công việc; công tác quản lý cho vay hộ nghèo được lãnh đạo ngân hàng thực hiện tốt, góp phần làm tăng hiệu quả cho vay của ngân hàng.

- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn thấp, giảm so với kỳ trước có thể do các nguyên nhân sau: nguồn vốn cho vay không được ngân hàng quan tâm phát triển, công tác thẩm định và quy trình duyệt hồ sơ, dự án cho vay chậm, kém hiệu quả; ngân hàng bị cắt giảm nguồn vốn cho vay theo chủ trương của lãnh đạo cấp trên; ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và việc triển khai dự án sản xuất kinh doanh của hộ nghèo… Do vậy, để đánh giá chính xác về việc tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn thấp, giảm đi so với kỳ trước cần phải phân tích kỹ lưỡng các nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn.

So sánh tỉ lệ hộ nghèo được vay vốn giữa các kỳ phản ánh được việc mở rộng hay thu hẹp số hộ nghèo được vay vốn, từ đó đưa ra đánh giá về chất lượng, hiệu quả cho vay hộ nghèo tăng hay giảm.

- Số tiền vay bình quân mỗi hộ

Việc so sánh chỉ tiêu này qua các kỳ báo cáo giúp ta đánh giá được mức đầu tư cho một hộ ngày càng tăng lên hay giảm xuống, từ đó đưa ra kết luận việc cho vay có đáp ứng được nhu cầu thực tế của các hộ nghèo hay không.

Số tiền cho vay                         Dư nợ cho vay đến thời điểm báo cáo

   bình quân             =                 ----------------------------------------------------
    một hộ                                      Tổng số hộ còn dư nợ đến thời điểm báo cáo

 

 

 

Số tiền vay bình quân mỗi hộ phản ánh chất lượng cho vay của ngân hàng; con số này càng lớn thể hiện niềm tin của ngân hàng đối với các dự án vay vốn tăng cao, năng lực sản xuất kinh doanh của hộ nghèo tiến bộ, chất lượng cho vay ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào cả hai nhân tố là ngân hàng và hộ nghèo được vay vốn:

 

 

- Số tiền vay bình quân mỗi hộ càng tiến gần đến mức trần cho vay 50 triệu đồng/hộ chứng tỏ năng lực sản xuất kinh doanh của hộ nghèo đã đạt đến trình độ cao nhất định, thuyết phục được cán bộ tín dụng của ngân hàng trong việc thẩm định và duyệt cho vay dự án sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, chỉ tiêu này cao còn do nguyên nhân từ phía ngân hàng: chủ trương cho vay tập trung vào các ngành nghề có khả năng phát triển cao, phù hợp với hộ nghèo và cán bộ tín dụng của ngân hàng có khả năng hòa đồng, thông cảm với hộ nghèo, từ đó tạo thuận lợi trong việc hướng dẫn các hộ được vay vốn về kỹ thuật trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh, giúp họ nâng cao nhận thức, trình độ để tiến hành sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, đảm bảo khả năng thanh toán lãi vay và trả nợ gốc cho ngân hàng mà vẫn dư ra một khoản lợi nhuận nhất định để nâng cao chất lượng cuộc sống, từng bước vươn lên thoát nghèo.

Số tiền vay bình quân mỗi hộ giảm có thể do nguyên nhân từ phía ngân hàng quản lý yếu kém, hộ nghèo vay vốn chưa đủ trình độ sản xuất kinh doanh để được thẩm định cho vay sát với mức trần 50 triệu đồng/hộ. Hoặc do các nguyên nhân khách quan như chủ trương của lãnh đạo cấp trên (trong một thời kỳ nhất định), do sự bất thường về khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến việc đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh của hộ nghèo… Do vậy, để đánh giá chính xác về số tiền vay bình quân giảm so với kỳ trước cần thu thập và phân tích đầy đủ các thông tin liên quan.

-Tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là tổng số nợ đến hạn nhưng không được cho vay lưu vụ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hay gia hạn nợ.

Tỷ lệ nợ quá hạn được xác định bằng tổng số nợ quá hạn chia cho tổng dư nợ tại cùng một thời điểm hoặc trong cùng một kỳ báo cáo:

 

             Tỷ lệ                              Tổng nợ quá hạn đến thời điểm báo cáo

 

       nợ             =              ---------------------------------------------------------

 

 quá hạn                          Tổng dư nợ đến thời điểm báo cáo

 

 

Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh trực tiếp chất lượng, hiệu quả cho vay hộ nghèo. Chỉ tiêu này ở mức cao cũng đồng nghĩa với việc quản lý chất lượng cho vay kém, hiệu quả cho vay không cao, ảnh hưởng xấu đến việc thu hồi nợ và có thể còn làm ngân hàng bị cụt vốn nếu nợ quá hạn phải chuyển sang nợ khó đòi, khoanh nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn cao có thể do các nguyên nhân sau:

 

 

- Chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng của ngân hàng yếu kém, thiếu trình độ chuyên môn, khả năng thẩm định và đánh giá chất lượng, tính khả thi của các dự án cho vay.

- Năng lực quản lý của bộ máy lãnh đạo ngân hàng yếu kém, ảnh hưởng xấu đến kết quả công tác cho vay và hiệu quả cho vay hộ nghèo.

- Nguyên nhân khách quan do hộ nghèo có người bị ốm đau đột xuất, do điều kiện thời tiết bất thường ảnh hưởng đến việc sản xuất mùa vụ của hộ nghèo…

Tỷ lệ nợ quá hạn thấp cho thấy chất lượng, hiệu quả cho vay cao, ngân hàng quản lý tốt việc cho vay và thu hồi nợ; đồng thời thể hiện hộ nghèo đã thực hiện tốt các dự án sản xuất kinh doanh, có lợi nhuận để thanh toán lãi và trả nợ gốc cho ngân hàng, từng bước tiến lên thoát nghèo, góp phần làm tăng hiệu quả cho vay hộ nghèo của ngân hàng.

-Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói

Là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá hiệu quả của công tác tín dụng đối với hộ nghèo. Hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cao hơn chuẩn mực nghèo đói hiện hành, không còn nằm trong trong danh sách hộ nghèo, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng. Tổng số hộ nghèo đã thoát khỏi ngưỡng nghèo trong kỳ báo cáo được xác định như sau:

 

 

 

Tổng số hộ nghèo đã thoát khỏi ngưỡng nghèo

 

=

Số hộ nghèo trong danh sách đầu kỳ

-

Số hộ nghèo trong danh sách cuối kỳ

-

Số hộ nghèo trong danh sách đầu kỳ di cư đi nơi khác

+

Số hộ nghèo mới vào trong kỳ báo cáo

 

 

 

Chỉ tiêu này cũng là phần đánh giá cuối cùng trong quy trình đánh giá hiệu quả cho vay hộ nghèo, là kết quả tổng hợp của việc thực hiện bốn tiêu chí đã nêu ở trên.

 

 

Số hộ thoát nghèo lớn chứng tỏ chất lượng và hiệu quả cho vay cao, kết quả của việc ngân hàng làm tốt công tác cho vay (thẩm định và phê duyệt dự án) và quản lý vốn vay (bao gồm cả các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật cho hộ nghèo trong quá trình sản xuất, kinh doanh); hộ nghèo đã tiến lên trình độ hiểu biết cao hơn để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh có lãi, thu lợi nhuận để nâng cao chất lượng cuộc sống và vươn lên thoát nghèo. Đây là tín hiệu tốt và là tiêu chí tổng hợp để đưa ra nhận xét về chất lượng và hiệu quả cho vay hộ nghèo.

Số hộ thoát nghèo trong kỳ báo cáo thấp hoặc giảm so với các kỳ trước có thể do các nguyên nhân sau:

- Ngân hàng không làm tốt công tác cho vay, quản lý vốn vay và hiệu quả sử dụng vốn vay kém; năng lực của cán bộ lãnh đạo và nhân viên, đặc biệt là nhân viên phụ trách tín dụng yếu kém dẫn đến hiệu quả cho vay thấp.

- Lãnh đạo và nhân viên ngân hàng đã thực hiện tốt công tác cho vay, quản lý vốn vay; nhiệt tình, tận tâm với công việc; thực hiện đúng các quy trình thủ tục, cho vay… nhưng do các điều kiện khách quan như: sự bất thường của thời tiết, hộ nghèo có người ốm đau, bệnh tật,… ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh làm cho hộ nghèo không có khả năng trả lãi, trả nợ gốc và không thể thoát nghèo.

Mục tiêu hoạt động của NHCSXH là hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và là tổ chức kinh tế phi lợi nhuận. Do đó, trong hoạt động cho vay hộ nghèo, chỉ tiêu số hộ thoát nghèo là chỉ tiêu chính để đánh giá hiệu quả trong hoạt động cho vay hộ nghèo. Cùng với các chỉ tiêu đã nêu ở trên, việc đánh giá hiệu quả cho vay hộ nghèo có những cơ sở đầy đủ, toàn diện để đưa ra kết luận cuối cùng bảo đảm tính chính xác, khoa học.

II. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NHCSXH HUYỆN MÊ LINH

Phòng giao dịch NHCSXH huyện Mê Linh được thành lập vào ngày 10 tháng 5 năm 2003 theo Quyết Định số 678/QĐ-HĐQT của Hội đồng quản trị NHCSXH. Phòng giao dịch NHCSXH huyện Mê Linh là đại diện pháp nhân, trực tiếp giao dịch với khách hàng, hạch toán nội bộ trong hệ thống hạch toán tập trung của NHCSXH.

Sau gần 15 năm xây dựng và phát triển, NHCSXH huyện đã góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm cho hàng ngàn lao động trong huyện. Khi mới thành lập, NHCSXH huyện Mê Linh cũng gặp không ít khó khăn. Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, đội ngũ cán bộ phần lớn mới tuyển dụng nên còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế trong khi địa bàn hoạt động lại rộng. Song được sự giúp đỡ của lãnh đạo thành phố Hà Nội, UBND huyện Mê Linh, cùng với sự quan tâm chỉ đạo của NHCSXH thành phố Hà Nội, các cán bộ của phòng giao dịch đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Từ khi mới thành lập, NHCSXH huyện Mê Linh cũng gặp không ít khó khăn. Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, đội ngũ cán bộ phần lớn mới tuyển dụng nên còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế trong khi địa bàn hoạt động lại rộng. Song được sự giúp đỡ của lãnh đạo huyện, kết hợp với sự quan tâm chỉ đạo của NHCSXH tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội, NHCSXH huyện Mê Linh đã có bước phát triển nhanh, đúng hướng và có hiệu quả đối với người nghèo. NHCSXH huyện đã hình thành được một mạng lưới tổ chức đến tất cả các xã. Đặc biệt với cách làm sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với các tổ chức quần chúng, giúp đỡ được người nghèo thiết thực hơn. Tính đến cuối năm 2016 tổng doanh số các chương trình cho vay toàn huyện đạt 86.274 triệu đồng trong đó cho vay hộ nghèo chiếm 52,7% tổng doanh số cho vay đạt 44.864 triệu đồng.

Cho vay hộ nghèo là chương trình cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của NHCSXH huyện. Đến nay quy mô cho vay hộ nghèo của ngân hàng đã được mở rộng không chỉ tại trụ sở mà còn có 18 điểm giao dịch lưu động. Ngân hàng đã phối hợp cùng với hội đoàn thể các cấp để đưa vốn tới tận tay hộ nghèo. Doanh số cho vay của NHCSXH huyện tăng đều qua các năm: Năm 2014 doanh số cho vay đạt 3.855 triệu đồng, năm 2015 đạt 11.955 triệu đồng và năm 2016, doanh số cho vay đã đạt 11.455 triệu đồng; cho thấy quyết tâm XĐGN của Chính phủ và nỗ lực của NHCSXH huyện trong hoạt động cho vay hộ nghèo. Trong 3 năm từ 2014-2016, NHCSXH huyện đã thực hiện tốt chức năng của mình là cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách

Bình luận (0)

Để lại một bình luận